Just another free Blogger theme

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2015

Trong sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, giáo sư Đỗ Tất Lợi mô tả chanh là loại cây nhỏ nhắn hay có gai, gai dài 35 mm, búp non có màu đỏ. Lá hình trứng hay hình dài, dài 5,5 - 11 cm, rộng 3,5 - 6 cm, mép có răng cưa. 
Hoa trắng, nhuốm tím hạt hay đỏ tím, mọc đơn độc thành từng chùm 2 - 3 hoa. Lá có hình mũi mác, nhẵn hơi có lông. Quả nhỏ, vỏ mỏng nhẵn, chia thành 10 - 12 múi, mỗi múi chứa 2 - 3 hạt. Cơm quả rất chua.
Về phân bố, GS Đỗ Tất Lợi cho hay chanh được trồng khắp ở nước ta. Mùa hoa của cây vào tháng 3 - 5, mùa quả từ tháng 6 - 9. Ngoài ra, người dân còn trồng một vụ chanh chiêm vào tháng 1 - 2.
Người dân trồng loại cây này chủ yếu lấy quả để ăn, lá làm gia vị. Trong Đông y, chanh được tận dụng từ quả, lá, rễ để làm vị thuốc, được thu hái gần như quanh năm, dùng cả tươi và khô.
Lớp vỏ xanh của chanh chứa tinh dầu là một chất lỏng màu vàng nhạt, mùi thơm chanh, còn vỏ trắng chứa pectin.
GS Lợi cho biết rong dịch quả chanh có 80 - 82% nước, 5 - 7% axit xitric, 1 - 2% xitrat axit canxi, kali, xitrat ety và 0,4 - 0,5% axit malic. Ngoài ra còn 0,4 - 0,75% đường interverti, 0,5% sacaroza, 0,75 - 1% protit. Độ tro 0,5%, vitamin C 65 mg trong 100 g dịch tươi.
Lá chanh chứa tinh dầu mùi thơm dễ chịu. Hàm lượng tinh dầu trong lá thay đổi từ 0,33 - 0,5%. Ngoài ra,lá còn chất stachydrin, một dẫn xuất của prolin.
Chữa bệnh cùng chanh
Theo GS Đỗ Tất Lợi, các bộ phận của cây chanh đều có giá trị riêng. Cụ thể:
Dịch quả: Tính mát, thông tiểu tiện, có tác dụng chữa bệnh tê thấp, liều dùng 30 - 120 g/ngày, pha thành nước uống. Nó cũng có thể dùng chữa bệnh scorbut (bệnh do thiếu vitamin C) của trẻ sơ sinh, thậm chí cả người lớn. Ngoài ra, dịch quả chanh còn làm nguyên liệu chế axit xitric thiên nhiên.
Múi: Có thể phối hợp với muối ăn dùng ngậm chữa ho, viêm họng. Sau khi gội đầu, bạn có thể vắt một ít nước chanh quả lên có tác dụng làm trơn tóc.
Lá và ngọn: Lá thường dùng làm gia vị ăn với thịt gà, ốc, nấu nước để xông trị cảm cúm. Lá và búp non chanh giã nát đắp lên rốn trẻ em chữa bí đái, đầy chướng bụng.
Rễ: Dùng chữa ho dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hoặc phối hợp với rễ dâu tằm, ngày dùng 6 - 12 g.
Tinh dầu quả và lá: Pha nước gội đầu, làm thơm các thuốc phiến, thuộc bột hay thuốc ngậm.
Vỏ thân cây: Dùng là thuốc bổ đẵng giúp tiêu hóa, ngày uống 4-10 g dưới dạng thuốc sắc.
Hạt quả: Dùng làm thuốc tẩy giun.

Các dược chất có trong thuốc bôi ngoài da có thể thấm vào máu và nếu thuốc có độc tính thì cơ thể sẽ bị nhiễm độc nếu bôi dài ngày.


Bôi ngoài, hại trong
Thuốc bôi ngoài da là một chế phẩm tiện lợi trong điều trị các bệnh tổn thương ngoài da. Hiện nay có nhiều dạng thuốc bôi trên thị trường như mỡ Benzosali, hồ nước, mỡ Acyclovir, kem kẽm oxit, dung dịch sát khuẩn, dung dịch xanh-methylen... Nhìn chung, thuốc bôi bao gồm một hoặc nhiều thành phần: chất béo, nước, bột và thuốc.
Có 5 loại thuốc bôi cơ bản đó là: dạng dung dịch, dạng bột, dạng hồ, dạng kem và dạng mỡ:
1. Dạng dung dịch: Đa phần là các thuốc sát trùng như: Xanh metylen, Acid boric, Tím gentian. Dạng dung dịch này chủ yếu được dùng cho vết thương, loét da, chảy nước.
2. Dạng bột: Thành phần dược liệu có trong thuốc bột thường là các kháng sinh như Clorocid. Thuốc bôi dạng này chủ yếu được dùng cho các vết thương nhiễm trùng chảy nước nhiều và liên tục.
3. Thuốc mỡ: là hỗn hợp gồm các chất diệt khuẩn như kháng sinh, các acid hữu cơ, các chất làm bong vảy da như acid salicylic, các kháng sinh chống nấm, corticoid, vitamin... Thuốc mỡ chỉ được dùng cho vết thương đã khô và đóng vảy.
4. Dạng hồ: là dạng thuốc bôi trong đó thành phần bao gồm chất béo, bột tạo hình và thuốc. Vì có nhiều bột hơn nên thuốc bôi ngoài da dạng hồ được sử dụng trong giai đoạn bán cấp, vết thương chuẩn bị se da.
5. Kem: là một dạng thuốc bôi mà thành phần của nó có đủ: mỡ, glycerin, nước và thuốc. Nó thường được dùng để chế tạo mỹ phẩm. Thuốc đôi khi cũng được bào chế dạng kem với chủ định là làm mát da.
Việc sử dụng thuốc dùng ngoài da cũng phức tạp và nhiều lúc đòi hỏi sự thận trọng không kém gì thuốc để uống. Các hoạt chất có trong thuốc bôi ngoài da có thể ngấm vào cơ thể gây tác động toàn thân.
Khi dùng thuốc bôi ngoài da cần biết cơ chế tác dụng của thuốc, phản ứng của cơ thể với thuốc ấy. Trên thực tế, rất nhiều trường hợp cả người lớn và trẻ nhỏ phải nhập viện do sử dụng thuốc bôi ngoài da không đúng cách.
Cách đây không lâu, BV Nhi Đồng 2, TPHCM đã tiếp nhận một trẻ hai tháng tuổi bị hoại tử đầu ngón tay phải cắt bỏ phần hư chỉ vì người thân mua kem chứa thuốc chống viêm glucocorticoid thoa mụn bóng nước trên da của trẻ.
Một trường hợp bị phản ứng phụ từ thuốc bôi ngoài da khác là ông Đ., ở Quảng Xương, Thanh Hóa.Ông Đ. bị bệnh vẩy nến, khi mới mắc có đi khám ở bệnh viện tỉnh, bác sĩ kê loại thuốc mỡ Daivonex. Bôi thời gian đầu thấy đỡ nên những lần sau khi bệnh tái phát nặng hơn, ông Đ. vẫn tự mua loại thuốc này để bôi. Sau hơn 7 tháng, ông thấy người mệt mỏi, chán ăn, huyết áp cao nên phải nhập viện. Bác sĩ kết luận ông bị viêm cầu thận vì dùng thuốc bôi da quá lâu, gây tác dụng phụ.
Điển hình của loại thuốc dùng ngoài da có thể gây tác dụng phụ và ảnh hưởng toàn thân nếu sử dụng bừa bãi là thuốc có chứa glcocorticoid (gọi tắt corticoid) hoặc chứa fluoro-corticoid là dược chất có tác dụng rất mạnh. Nếu bôi lâu ngày trên da sẽ làm teo da, rạn da, da dễ bị nhiễm trùng vì mất sự đề kháng, hoặc da mặt bị mụn trứng cá, phát mụn tấm khắp mặt...
Không những thế, nếu bôi lâu ngày, độc tính của thuốc có thể thấm qua da vào máu làm cho trẻ con chậm lớn hoặc các cô gái tiền dậy thì bị rối loạn sự phát triển hệ lông. 
Do có khả năng gây tai biến như thế nên mặc dù chỉ được dùng ngoài da, nhưng các loại thuốc bôi có chứa corticoid, fluorocorticoid vẫn bị quy vào thuốc độc dược bảng A, tức là thuốc phải được bán theo toa của bác sĩ, phải dùng đúng liều lượng và không dùng quá 7 ngày.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Thuốc bôi da cũng là thuốc
BS Bùi Cẩm Trúc, thành viên của Hiệp hội Thẩm mỹ Da Hoa Kỳ, bác sĩ điều trị tại Phòng khám BS Trúc khuyến cáo, bất cứ loại thuốc nào cũng đều có tác dụng phụ. Sử dụng thuốc bôi ngoài da phải phù hợp với tính chất bệnh lý, giai đoạn bệnh, mức độ bệnh, vùng da, có khi cả tuổi, giới, thời tiết, nghề nghiệp… thì mới có hiệu quả cao.
Theo nguyên tắc, mỗi loại kem bôi da không được sử dụng quá 15 ngày và những lần sau phải đổi sang thuốc mới để tránh nhờn thuốc. Cần bôi thử ở từng vùng nhỏ và theo dõi phản ứng, nếu không thấy có hiện tượng gì lạ xuất hiện như ngứa tăng lên, nổi mẩn... thì mới dùng thuốc bôi rộng toàn vùng tổn thương.
Một số thuốc bôi da nếu kết hợp với thuốc khác sẽ gây phản ứng. Một số bệnh khi dùng thuốc bôi cũng yêu cầu kiêng cữ và thay đổi cách ăn uống, sinh hoạt. 
Vì vậy, khi có biểu hiện bệnh, không nên tự ý mua thuốc chữa mà phải được bác sỹ kê đơn, hướng dẫn dùng thuốc, đặc biệt với phụ nữ đang mang thai vì có thể ảnh hưởng đến thai nhi. Khi bôi thuốc cần làm vệ sinh da, làm sạch tổn thương và vùng da xung quanh trước thì thuốc mới có hiệu quả.
Riêng đối với trẻ sơ sinh, phải tránh dùng các loại xà bông có chứa hexaclorophen (như Phisohex) vì có thể gây ngộ độc thần kinh. Hoặc không được dùng với dầu gió, dầu cù là có chứa bạc hà (menthol), long não (camphor) bôi lên mũi trẻ sơ sinh vì có thể gây kích ứng làm ngưng hô hấp .
Đối với các mỹ phẩm như: kem dưỡng da, kem trị mụn, kem trị tàn nhang cũng cần phải xem như dược phẩm và phải dùng với ý thức và thận trọng như dùng một loại thuốc dùng ngoài da. Thực tế, có nhiều loại kem như kem trộn dùng thời gian ngắn rất hiệu quả nhưng càng về sau gây teo da giãn mạch, dễ bị ngứa, khó dứt được thuốc bôi và để lại hậu quả lâu dài về mặt thẩm mỹ.
Tử vong vì thuốc bôi miệng ở trẻ mọc răng
Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA)đã phát hiện 22 trường hợp ở nước này bị tác dụng phụ nặng do lidocaine bôi miệng ở trẻ em trong năm 2014. Trong số này có 6 trường hợp tử vong, 3 trường hợp nguy kịch, 11 trường hợp phài nhập viện và 2 trẻ phải can thiệp y tế nhưng không vào viện.
Lidocaine là dạng thuốc bôi chưa được FDA phê chuẩn để điều trị đau miệng do mọc răng ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ, và tình cờ nuốt phải thuốc này có thể gây co giật, tổn thương não nặng và và bệnh tim ở trẻ em.
Theo Ngọc Ân - Sức khỏe gia đình

Bằng cách dùng ánh sáng kích hoạt các tế bào não nhất định, các nhà khoa học cho biết họ có thể giúp những người mắc chứng hay quên nhớ lại phần ký ức đã bị mất.


Các nhà khoa học nói có thể hồi phục trí nhớ cho người mắc chứng hay quên - Ảnh: Press TV
Trong nghiên cứu công bố trên tạp chí Science ngày 29/5, các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT, Mỹ) nói họ đã tiến hành nghiên cứu trên chuột thí nghiệm bị mắc chứng hay quên.
Họ nhận thấy phần trí nhớ đã mất của chúng không bị mất vĩnh viễn mà được lưu lại ở các tế bào não nhất định mà chúng không thể tìm lại được. Các nhà khoa học đã dùng ánh sáng để "nhắc" các tế bào não này hoạt động, nhờ đó chuột có thể nhớ lại phần ký ức đã quên.
Kết quả này trái ngược với giả thuyết lâu nay cho rằng mất trí nhớ ở chứng hay quên là do việc lưu trữ của bộ nhớ có vấn đề, chứ không phải vì não không có khả năng nhớ lại.
"Đa số nhà nghiên cứu ủng hộ lý thuyết lưu trữ, nhưng nghiên cứu này cho thấy lý thuyết trên có lẽ là sai" - Susumu Tonegawa, giáo sư tại khoa sinh học MIT từng đoạt giải Nobel và là trưởng nhóm nghiên cứu, nói.
"Kết quả nghiên cứu này có nghĩa là những ký ức trong quá khứ có thể không bị xóa đi mà chỉ đơn giản là bị "thất lạc" và não không thể tìm thấy để lấy lại", GS Tonegawa thêm.
Ông cũng hi vọng những phát hiện của cuộc nghiên cứu sẽ thúc đẩy các nghiên cứu trong tương lai về việc khôi phục trí nhớ cho người mắc chứng hay quên.
Theo T.Vy - Tuổi trẻ

Trên thế giới bệnh tim mạch hiện nay là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của con người. Bệnh thường kết hợp với các bệnh khác của cơ thể.

Và ở những bệnh nhân có bệnh kết hợp này, tỉ lệ tử vong tăng lên từ 2 - 4 lần so với những người bị bệnh tim mạch đơn thuần
Lồng ngực khó chịu, đau thắt ngực khi hoạt động
Có rất nhiều triệu chứng mà trong thuật ngữ chuyên môn các thầy thuốc thường gọi là triệu chứng cơ năng, gợi ý cho người bệnh cảm thấy mình bị bệnh tim mạch và thấy cần phải đi khám bệnh ở bệnh viện hay phòng khám. 
Những triệu chứng này thường do tình trạng thiếu máu cục bộ của cơ tim, tình trạng rối loạn vận động cơ tim, giãn các buồng tim và tổn thương của hệ thống van trong buồng tim gây ra.
Biểu hiện hay gặp nhất của thiếu máu cơ tim cục bộ là khó chịu ở lồng ngực bên trái và nặng hơn là đau thắt ngực. Còn giảm khả năng làm việc của cơ tim sẽ dẫn đến cảm giác yếu, dễ mệt, nhất là khi hoạt động hoặc nặng hơn là xanh tím, tụt huyết áp, ngất và tăng áp lực động mạch phổi, suy tâm thất trái điều này đưa đến phù và khó thở.
Các triệu chứng cơ năng mà người bệnh gặp phải thường tăng lên khi hoạt động nhiều, gắng sức, trong trạng thái xúc động… 
Hiếm khi xuất hiện lúc nghỉ ngơi, nếu triệu chứng đau ngực, khó thở, hồi hộp….xuất hiện lúc nghỉ ngơi cần phải nghĩ đến những bệnh của hệ thống thần kinh thực vật hơn là các tổn thương thực thể của tim.
Những lầm lẫn thường gặp trong khi chẩn đoán bệnh tim
Vì bệnh tim mạch rất phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân và có rất nhiều người không phải là thầy thuốc cũng đã quen nghe đến các triệu chứng chủ yếu của loại bệnh này. Chính vì vậy, rất nhiều người và cả thầy thuốc cứ gán bừa những triệu chứng cơ năng không phải của bệnh tim coi như là bệnh sự.
Hơn nữa sự kết hợp giữa tư tưởng sợ bệnh tim phổ biến trong xã hội với sự liên tưởng sâu đậm giữa bệnh tim và các rối loạn cảm xúc làm cho những người không bị bệnh tim, nhưng luôn luôn tưởng tượng ra những triệu chứng giống bệnh tim. Bản thân họ không biết những chuyện như vậy chỉ làm khổ bản thân họ, gia đình và thậm chí cho cả thầy thuốc nữa.
Trong các triệu chứng hay gặp ở bệnh tim thì hiện tượng khó thở là triệu chứng gây khó khăn nhiều nhất cho công việc chẩn đoán vì không chỉ đặc trưng cho bệnh tim, mà còn là dấu hiệu của nhiều loại bệnh khác như các bệnh về phổi, những người béo phì và những người có tình trạng cảm xúc bị rối loạn. 
Tương tự, triệu chứng đau và nặng ngực cũng do nhiều bệnh khác như đau cơ thành ngực, viêm dạ dày thực quản… gây ra chứ không riêng gì bệnh thiếu máu cơ tim. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ cách xuất hiện của cơn đau và các triệu chứng đi kèm, người thầy thuốc có thể chẩn đoán chính xác người bệnh có bị bệnh tim thật sự hay không?
Bệnh tim có di truyền hay không?
Khá nhiều bệnh tim có tính chất gia đình, nhất là những bệnh tim có kết hợp với các bệnh khác như tiểu đường, rối loạn chuyển hoá… Một số bệnh tim khác phải kể đến cũng có yếu tố gia đình như: hội chứng Marfan, bệnh cơ tim phì đại, đột tử trong hội chứng QT kéo dài…
Trong cao huyết áp không rõ nguyên nhân thì có yếu tố gia đình nhưng không rõ rệt lắm. Nhiều bệnh tim khác trong gia đình không những do di truyền mà còn do các thói quen về sinh hoạt và ăn uống của gia đình bệnh nhân như: ăn quá mặn, ăn nhiều mỡ và chất bột đường, hút thuốc lá, thuốc lào… 
Chính vì vậy, ở những gia đình có người bị bệnh tim, các thành viên khác trong gia đình cần phải chú ý khả năng mắc bệnh tim của mình. 
Việc phát hiện bệnh sớm là rất cần thiết cho điều trị, ở tuổi trên 40, những người có yếu tố nguy cơ cao trong gia đình có tiền sử bệnh tim mạch nên đi khám bệnh định kỳ mỗi sáu tháng để tầm soát sớm bệnh tim mạch.
Bạn có bị bệnh tim?
Sau khi khám bệnh tại một thầy thuốc chuyên khoa về tim mạch và được làm thêm một số xét nghiệm cơ bản để chẩn đoán xác định cũng như loại trừ bệnh như đo điện tim, siêu âm tim, chụp x quang tim phổi… người bệnh có thể ở vào một trong ba trường hợp sau đây:
- Bạn hoàn toàn không bị bệnh tim, khi đó chính bản thân người thầy thuốc phải cương quyết khẳng định với người bệnh như vậy và không nên hẹn họ quay lại kiểm tra tim mạch định kỳ vì nếu quá quan tâm đến người bệnh, họ sẽ bị ám ảnh bởi bệnh tim và luông nghĩ mình đẵ mắc bệnh.
- Nếu không thấy dầu hiệu của bệnh tim thật sự, nhưng có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh thiếu máu cơ tim: béo phì, tiểu đường, cao huyết áp, tiền căn gia đình, hút thuốc lá, phụ nữ trên 40 tuổi… nên có kế hoạch điều trị để giảm các yếu tố nguy cơ đó và hẹn tái khám định kỳ nhằm tầm soát sớm bệnh tim mạch.
- Nếu thật sự mắc bệnh tim, cần phải điều trị ngay. Bệnh nhân cần phải yêu cầu thầy thuốc chuyên khoa tim mạch nói rõ hường điều trị cho mình: Điều trị nội khoa, can thiệp nội mạch hay phẫu thuật. Tuy nhiên chúng ta cũng lưu ý rằng: các điều trị cho bệnh tim mạch là rất tốn kém, là một gánh nặng về kinh tế cho xã hội, gia đình và bản thân người bệnh.
Theo PGS.TS Nguyễn Hoài Nam - Tuổi trẻ
Tổng thư ký Hội Phẫu thuật lồng ngực và tim mạch TPHCM

Điều mà mọi bệnh nhân ung thư đã được chữa trị khỏi đều lo sợ là căn bệnh quái ác này sẽ quay trở lại, tấn công cơ thể họ lần nữa.


tế bào, ung thư, ngủ đông, tái phát bệnh
Nghiên cứu mới phát hiện, các tế bào ung thư có thể ngủ đông suốt thời gian dài, đôi khi hàng chục năm, để tránh bị quá trình hóa trị tiêu diệt, rồi thức tỉnh và làm tái phát bệnh sau đó. Ảnh: Corbis
Trong các trường hợp hiếm gặp, ung thư đã "tái xuất" ngay cả khi bệnh nhân không còn dấu hiệu bệnh suốt một thời gian rất dài, đôi khi hàng chục năm, khiến các bác sĩ coi họ đã được chữa khỏi. Các nhà khoa học tin rằng, họ hiện đã lí giải được hiện tượng này.
Bằng chứng di truyền cho thấy, các tế bào ung thư có thể "ngủ đông", do đó tránh được các ảnh hưởng của quá trình chữa trị, và chỉ "tỉnh dậy" nhiều năm sau đó.
Các chuyên gia thuộc Viện nghiên cứu ung thư ở London, Anh tuyên bố, khám phá trên của họ có thể gợi mở những cách loại bỏ tận gốc các tế bào ung thư ngủ đông. Các phương pháp như vậy có thể diệt trừ nguy cơ nhỏ về việc căn bệnh sẽ tái phát sau khi dường như đã được chữa khỏi.
Nghiên cứu trên rất đáng chú ý, vì các nhà nghiên cứu đã thu thập được các mẫu máu và tủy xương từ một bệnh nhân mắc một dạng bạch cầu hiếm gặp, kéo dài tới 20 năm.
Nhóm nghiên cứu đã nhận diện được một đột biến ADN nhất định, trong đó 2 gen có tên gọi là BCR và ABL1 hòa nhập vào nhau, ở các tế bào ung trong cả 2 mẫu máu trích lấy cách nhau 22 năm. Điều này chứng tỏ một dòng giống chung giữa bệnh bạch cầu ban đầu và bệnh bạch cầu tái phát, ám chỉ rằng, các tế bào ung thư đã kháng cự được quá trình hóa trị bằng cách ngủ đông và tỉnh thức hàng thập niên sau đó.
Các nhà khoa học từ lâu đã nghi ngờ các tế bào ngủ đông từ căn bệnh ung thư ban đầu gây ra việc tái phát bệnh, nhưng không có bằng chứng chứng minh giả thuyết đó. Nghiên cứu mới đã giúp họ xác thực giả thuyết này.
GS Mel Greaves, người đứng đầu nghiên cứu, giải thích: "Công trình nghiên cứu của chúng tôi đã cung cấp bằng chứng ấn tượng về sự tiến hóa của ung thư trong hành động, với các tế bào ung thư có thể nằm ngủ đông để tránh quá trình điều trị và sau đó tích tụ các đột biến mới, có khả năng thúc đẩy bệnh tái phát.
Các tế bào máu gốc thường xuyên thay đổi bất thường giữa trạng nằm im lìm hay ngủ với trạng thái phân chia rất nhanh. Có vẻ như các tế bào ung thư đã vay mượn trò này để tránh bị quá trình hóa trị tiêu diệt".
GS Greaves nói thêm rằng, trong tương lai, nếu chúng ta tìm ra cách đẩy nhanh tốc độ phát triển của các tế bào ngủ đông báo trước bệnh ung thư này, chúng ta có thể dùng hóa trị liệu tấn công và tiêu diệt chúng, giả nguy cơ tái phát bệnh ung thư tốt hơn nữa.
Theo Tuấn Anh - 

Thói quen rửa mặt ngay sau khi đi nắng về có thể là nguyên nhân khiến bạn đau đầu. Thoạt nghe có vẻ nghịch lý nhưng đây lại là lý do gây bệnh rất thường gặp

Việc hoạt động, thể thao, đi chơi... ngoài nắng làm cơ thể thoát ra nhiều mồ hôi. Nhiều người về đến nhà, khi thấy đầu, mặt nóng bừng bừng là muốn tắm, gội đầu, rửa mặt ngay cho mát mẻ.
Thế nhưng, họ đâu biết rằng cảm giác dễ chịu chỉ là ban đầu và không lâu sau, đầu, mặt sẽ nóng bừng trở lại cùng chứng đau đầu. Vài viên thuốc giảm đau có thể giúp xoa dịu cơn đau. Tuy nhiên những ngày sau đó, bệnh vẫn diễn biến tương tự, hậu quả dẫn đến là đau đầu mạn tính kèm theo rối loạn tiêu hóa, loét dạ dày, viêm gan… do việc dùng thuốc giảm đau quá nhiều và kéo dài.
Vì sao đau đầu?
Để thích nghi với nhiệt độ thay đổi bên ngoài môi trường, cơ thể chúng ta cũng tự điều chỉnh nhằm tạo mức quân bình. Ví dụ: Thân nhiệt cơ thể trung bình bao giờ cũng khoảng 370C. 
Trời lạnh, máu trong người cũng bị ảnh hưởng lạnh, khi máu đi ngang qua vùng đồi thị sau não, các trung tâm giao cảm ở đó bị kích thích khiến mạch máu ngoại biên co lại, da gà nổi lên... làm cho thân nhiệt cũng tăng. Ngược lại, nếu nhiệt độ quá cao làm máu trở nên nóng, các trung tâm đối giao cảm bị kích thích sẽ khiến giãn mạch máu ngoại biên, gây xuất mồ hôi... và nhiệt độ cơ thể cũng giảm xuống.
Trường hợp đi nắng về, cảm giác đầu, mặt nóng, nếu bạn rửa mặt ngay sẽ thấy mát mẻ nhưng sau đó "bộ máy điều hòa nhiệt lượng" cơ thể hoạt động dẫn những hơi nóng còn lại trong cơ thể đến vùng mặt (đang mát do vừa được rửa bằng nước) và kết quả là mặt bạn nóng bừng trở lại.
Hơi nóng đưa lên đầu sẽ khiến chúng ta bị đau đầu. Nếu việc này xảy ra thường xuyên (nhất là vào mùa nắng nóng), chứng đau đầu sẽ càng ngày càng khó chịu hơn…
Đông y có bài thuốc nào giảm đau đầu?
Giải pháp để tránh bị đau đầu trong trường hợp này là làm ngược lại thao tác trên: nên rửa chân tay trước (nhất là vùng chân) sau khi đi nắng về. Theo nguyên lý điều hòa nhiệt lượng, hơi nóng ở đầu mặt và toàn thân sẽ được chuyển xuống chân và thoát ra ngoài qua các lỗ chân lông.
Lúc thân nhiệt hơi dịu, mới rửa mặt thì toàn cơ thể sẽ được hạ nhiệt đều, không gây tổn hại đến các phần khác trong cơ thể.
Nhiều người vì lâu ngày chứng đau đầu dai dẳng khó khỏi, nên dùng bài thuốc sau để trục hết hơi nóng ra, làm cho đầu nhẹ nhàng, thanh thản:
- Hương nhu (tươi): 10g (hoặc 6g nếu dùng khô), cúc hoa (lựa loại màu vàng tốt hơn): 16g. Cho vào bình đựng trà, rót khoảng 100ml nước sôi, đậy nắp, để khoảng 10 phút cho thuốc thấm ra. Uống lúc thuốc ấm, sáng và chiều. Uống khoảng 7 ngày, khi cảm thấy hết đau đầu, bỏ vị hương nhu, chỉ cần dùng cúc hoa, hãm uống như nước trà hàng ngày.
Hương nhu là vị thuốc chủ yếu dùng trị cảm nắng, trúng nắng, trừ được hơinắng nóng (thử khí) đã được dùng từ thời xa xưa.
Cam cúc hoa, theo Đông y, đi vào kinh Can, có tác dụng thanh đầu, minh mục (làm nhẹ đầu, sáng mắt). Y lý Đông y cho rằng tạng Can có liên hệ với mắt (Can khai khiếu ở mắt), ngoài ra, đường kinh Can có một nhánh (gọi là kinh Can biệt) đi lên đỉnh đầu, vì vậy, bệnh ở mắt, đỉnh đầu, có thể dùng những vị thuốc điều chỉnh ở tạng hoặc kinh Can để điều hòa các rối loạn đó.
Sự phối hợp hai vị thuốc hương nhu, cúc hoa, vừa trừ được hơi nóng, vừa làm cho nhẹ đầu, sáng mắt. Trà hương nhu cúc hoa uống vào, vừa cảm nhận được hương thơm, vừa cho cảm giác lâng lâng, nhẹ nhàng, sảng khoái!
Theo LY.BS Hoàng Duy Tân - Phụ nữ TPHCM

Viêm nang lông là bệnh khá phổ biến trong mùa nắng nóng. Tình trạng viêm nhiễm này thường xảy ra ở các vùng da ẩm ướt như nách, bẹn, mông…

Tuy không phải là bệnh nguy hiểm nhưng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sống (nhọt gây sẹo và mất tóc vĩnh viễn). Đáng nói, bệnh rất dễ mắc, dễ tái phát, việc điều trị thường kéo dài.
BS Lâm Bình Diễm, Bệnh viện Q.2 (TPHCM) cho biết, viêm nang lông(VNL) gây tổn thương da, thể hiện bằng những mụn mủ, sẩn hoặc sẩn - mụn mủ ở nang lông, chung quanh có quầng viêm đỏ và có thể thấy sợi lông xuyên qua. Các vị trí thường gặp là da đầu, mặt, nách, vùng mu và mặt duỗi tứ chi. Khi mụn vỡ để lại vết nhỏ và đóng vảy tiết. Bệnh thường gây ngứa (nhất là ở da đầu, mặt) và hay tái phát.
VNL xuất phát từ một nhiễm trùng của các nang lông do vi khuẩn, vi-rút hoặc nấm. VNL là hiện tượng viêm nguyên phát của nang lông do nhiều nguyên nhân nhiễm trùng và cũng có thể thứ phát do chấn thương hoặc băng kín nang lông. Nguyên nhân phổ biến nhất của VNL là vi khuẩn Staphylococcus aureus.
VNL nông thường gặp nhất là do tụ cầu vàng. Tuy vậy, tụ cầu vàng cũng có thể gây viêm sâu lan xuống toàn bộ nang lông (sycosis), gây ngứa. Bệnh hay tái phát khi không loại được các yếu tố thuận lợi như môi trường ô nhiễm, nóng ẩm. Ngoài ra, bệnh có thể do vi khuẩn gram âm, Pseudomonas, Proteus..., nấm men, nấm sợi, nhiễm vi-rút herpes, và ký sinh vật demodex. Cụ thể:
- VNL do vi khuẩn gram âm: có hai dạng - dạng mụn mủ nông quanh mũi và dạng cục hoặc nang ở sâu. Bệnh thường xảy ra trên những người sử dụng kháng sinh kéo dài trong điều trị mụn trứng cá, đôi khi việc điều trị kém hiệu quả, mụn trứng cá nặng hơn với hai dạng: mụn mủ nông và tổn thương sâu.
- VNL do nấm sợi: biểu hiện ban đầu là nhiễm nấm ở lớp sừng quanh miệng nang lông, sau đó lan vào sâu trong nang lông. Nấm da và nang lông có thể thấy ở đầu với các biểu hiện khác nhau do các chủng nấm khác nhau gây nên.
- VNL do nấm Malassezia: thời tiết nóng và ẩm là yếu tố thuận lợi gây bệnh. Khi mắc bệnh, bề mặt da nổi các sẩn ngứa và mụn mủ ở nang lông vùng lưng, cánh tay, đôi khi có ở gáy, mặt. Các thương tổn này giống như trứng cá nhưng không có nhân mụn.
- Nấm men Candida albicans thường xảy ra ở vùng bị băng bịt hoặc bị nóng ẩm lâu ngày (vùng da băng bịt bằng plastic, bôi kem corticoid...). Nhiễm nấm candida nang lông gây các mụn mủ thành đám.
- VNL do nhiễm vi-rút herpes: thường xảy ra ở vùng râu cằm, ria mép do cạo râu. Các mụn nước nang lông ở vùng râu tạo thành đám như chùm nho, sau vài ngày đóng vảy tiết. Bệnh tự khỏi, không để lại sẹo nhưng thườngtái phát.
- VNL do Demodex: do nhiễm Demodex folliculorum, gây bong vảy da xung quanh nang lông, biểu hiện giống như viêm da tiết bã nhờn hoặc sẩn-mụn mủ đỏ nang lông như trứng cá đỏ ở mặt.
- VNL ái toan là VNL không do nhiễm trùng, hiếm gặp, thường xảy ra ở người suy giảm miễn dịch với tổn thương là chùm mụn nước, mụn mủ, ngứa dữ dội. Bệnh kéo dài dai dẳng.
VNL do nhiều tác nhân gây ra, nên cần thực hiện các xét nghiệm nhằm tìm đúng tác nhân gây bệnh. Vấn đề đáng ngại nhất của VNL là để lại sẹo, đặc biệt là vùng tóc.
VNL dạng nhẹ có thể sử dụng kháng sinh thoa tại chỗ, nếu nặng thì dùng kháng sinh kháng nấm, kháng vi-rút toàn thân. Để ngăn chặn biến chứng, nên đi khám bác sĩ chuyên khoa để được điều trị đúng. Phòng ngừa VNL tốt nhất là vệ sinh sạch sẽ, không gây chấn thương (không gãi, không mặc quần áo quá chật, cạo râu cẩn thận…).
Theo Thiên Nga - Phụ nữ TPHCM