Just another free Blogger theme

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015

1. Sử dụng smartphone
Theo Tạp chí Women's Health, thói quen đọc văn bản, xem phim, check mail trên smartphone có thể là lý do khiến đôi mắt bị tổn thương sau này, đặc biệt là bạn làm việc này thường xuyên.
Nó có thể dẫn đến mờ mắt, khô mắt, chóng mặt và buồn nôn.
Để khắc phục tình trạng này, bạn cần cố gắng không sử dụng điện thoại trong vòng 20 phút, hoặc chọn phông chữ trên điện thoại lớn hơn.
2. Xem tivi vào ban đêm
Trong thực tế, khi nhìn vào bất kỳ loại màn hình nào trước khi đi ngủ buổi tối bao gồm điện thoại, máy tính bảng, tivi, laptop đều không tốt cho bạn, đặc biệt là đôi mắt.
Xem chúng trong bóng tối khiến các cấp độ ánh sáng thay đổi nhanh chóng, làm mắt khó thích nghi, gây ra mỏi, đau mắt, nhức đầu, khô mắt, thậm chí đỏ mắt.
3. Đeo kính áp tròng khi ngủ
Theo Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ, mỗi năm có gần một triệu người Mỹ mắc phải căn bệnh nhiễm trùng mắt liên quan đến đeo kính áp tròng.
Mặc dù kính áp tròng được thiết kế đặc biệt cho những người có vấn đề về mắt, nhưng các bác sĩ nhãn khoa khuyên không nên đeo nó qua đêm.
Giác mạc là lớp nằm ngoài cùng của mắt, nhận được oxy từ môi trường bên ngoài. Đeo kính áp tròng qua đêm ngăn cản oxy tới mắt và đôi khi dẫn đến loét giác mạc.
Viêm loét giác mạc có thể gây đau mắt, mờ mắt, chảy nước mắt, đỏ, ngứa.
4. Dụi mắt
Rất khó để tránh dụi mắt khi bị ngứa hoặc mệt mỏi. Tuy nhiên, hành động này có thể truyền vi khuẩn từ tay vào mắt gây nhiễm trùng, viêm nhiễm, và viêm kết mạc.
Dụi quá mạnh có thể phá vỡ các mạch máu dưới mí mắt. Vì vậy, khi bị ngứa, bạn hãy sử dụng một miếng gạc lạnh thay vì dụi mắt.
Dụi mắt có thể phá vỡ các mạch máu dưới mí mắt, gây nhiễm trùng cho mắt. Ảnh: Goodhousekeeping.
5. Lạm dụng thuốc nhỏ mắt
Thuốc nhỏ mắt có tác dụng làm co mạch máu khiến các sợi chỉ đỏ trong mắt biến mất. Nhỏ mắt có thể làm giảm triệu chứng khô, đỏ nhưng sử dụng quá thường xuyên có thể gây kích ứng cho mắt lâu dài.
Các nhà khoa học cảnh báo thuốc nhỏ mắt có thể có tác dụng phục hồi, nhưng ở giai đoạn đầu khi đau mắt.
Nếu bạn sử dụng thuốc nhỏ mắt theo đơn, thực hiện theo hướng dẫn của bác sĩ, ngưng sử dụng khi có triệu chứng kích ứng, nổi mẩn hoặc một số các tác dụng phụ tiêu cực khác.
6. Không bảo vệ mắt
Theo Học viện mắt Mỹ, gần 45% các tổn thương về mắt xảy ra ở nhà, nguyên nhân phổ biến là do tiếp xúc với các hóa chất trong sản phẩm làm đẹp, làm sạch, dầu mỡ nóng…
Vì vậy, bạn nên đeo kính an toàn để bảo vệ mắt khi cần phải làm việc với những tác nhân gây hại trên.
Bên cạnh đó, thói quen không đeo kính râm khi đi ra ngoài cũng làm tổn thương đôi mắt do tiếp xúc nhiều với tia UV. Kính râm có thể giúp bạn giảm thiểu những tác động của ánh sáng, bao gồm đau đầu, mờ mắt hoặc mắt đỏ.
7. Lợi dụng trang điểm mắt
Mascara, bút kẻ mắt, bóng mắt là những nguy cơ tiềm ẩn gây hại cho mắt. Chúng ngăn chặn hoạt động của tuyến dầu trên mí mắt, gây ra nhiễm trùng. Các hạt li ti từ mỹ phẩm có thể dính vào mắt gây kích ứng.
Ngoài ra, vi khuẩn thích môi trường tối, ẩm ướt nên các sản phẩm trang điểm mắt có thể là nơi phát sinh một số bệnh nhiễm trùng khó chịu. Do đó, bạn cần thay các sản phẩm này 3 tháng/một lần.
8. Không ngủ đủ giấc
Ngủ không đủ giấc có thể gây ra một số vấn đề như tăng cân, trầm cảm, suy giảm chức năng miễn dịch, đặc biệt làm tổn thương mắt. Mắt tổn thương có thể bị co giật, khô mắt, mờ và đau.
Hãy đảm bảo ngủ đủ giấc, khoảng 7 tiếng mỗi đêm và tránh xa các thiết bị điện tử trước khi đi ngủ.
9. Lười khám mắt
Hầu hết bác sĩ nhãn khoa đều khuyên nên khám mắt hằng năm. Điều này rất quan trọng để đảm bảo đôi mắt khỏe mạnh và không có vấn đề.
Kiểm tra mắt thường xuyên có thể phát hiện ra các triệu chứng của một số bệnh chẳng hạn như tiểu đường, tăng nhãn áp hay khối u não và có hướng điều trị kịp thời.

Các nhà khoa học Trường y khoa Keck (Đại học Nam California) cho biết, họ đã cấy ghép thiết bị thần kinh nhân tạo vào một vùng não bộ của những người bị liệt toàn thân hoặc bị mất chi, giúp người bệnh có thể truyền tín hiệu đến một cánh tay robot để thực hiện những động tác khó hơn. Hai dãy vi điện cực được cấy vào vỏ não sau thùy đỉnh. Khác với vỏ vận động sơ bộ, bộ phận này có nhiệm vụ xử lý thông tin thực hiện các động tác.
GS. Richard Andersen - chuyên khoa thần kinh thuộc Đại học Nam California cho biết: “Thành công của nghiên cứu này là ở chỗ người bệnh chỉ cần tưởng tượng ý định của hành động nào đó và cánh tay robot sẽ cụ thể hóa ý định đó một cách tự nhiên và dễ dàng hơn”.
Kết quả nghiên cứu trên được công bố sau khi Erick Sorto (34 tuổi) bị liệt từ cổ xuống đã có thể dễ dàng uống bia hay bắt tay nhờ thiết bị cấy ghép vào vỏ não sau thùy đỉnh. Nghiên cứu này đã mở ra niềm hy vọng mới cho những bệnh nhân mắc các bệnh về thần kinh và không tự điều khiển được các chi.
Các nhà nghiên cứu của Đại học Utah (Mỹ) cho biết, trong 1 giờ chỉ cần một vài phút di chuyển thay vì ngồi trên ghế cũng có thể làm giảm đáng kể tác hại của việc ngồi quá nhiều. Việc ngồi một chỗ lâu sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường, bệnh tim, béo phì, bệnh thận và thậm chí có thể tử vong sớm. Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng mỗi giờ mà một người thừa cân xem truyền hình tại nhà có thể làm tăng khả năng gây ra bệnh đái tháo đường lên đến 3,4% và hầu hết người tham gia cuộc khảo sát đều ngồi xem ít nhất 3 giờ/ngày.
TS. Srinivasan Beddhu - người đứng đầu cuộc nghiên cứu cho biết: “Khám phá này có liên quan đến sự cân bằng năng lượng cơ thể. Theo đó, đi dạo thay cho việc ngồi một chỗ làm tăng số lượng calo cơ thể có thể đốt cháy, góp phần giảm cân và thay đổi các chuyển hóa khác”.
Các nhà khoa học đã đưa ra lời khuyên: Chúng ta nên thay đổi việc ngồi bằng cách đi lại nhẹ nhàng ít nhất 2 phút mỗi giờ có thể giảm nguy cơ tử vong sớm lên đến 33% so với những người ngồi liên tục.
Polyp túi mật là một bệnh thường gặp với tỉ lệ khoảng 5% dân số. Trong đó 95% là lành tính và phần lớn là những polyp cholesterol. Hầu hết các polyp nhỏ không phải là tổn thương ung thư, có thể không thay đổi trong nhiều năm và người bệnh chung sống hòa bình. Nhưng nếu polyp nhỏ đi kèm các bệnh lý khác, chẳng hạn như viêm đường mật xơ dính nguyên phát thì chúng lại có khả năng là ác tính. Các nghiên cứu cho biết, có nhiều yếu tố liên quan đế việc hình thành polyp túi mật như: rối loạn chức năng gan mật; nồng độ đường trong máu cao; nồng độ mỡ trong máu tăng; người béo phì, nhiễm virut viêm gan... Trường hợp của bạn có sỏi ống mật và polyp túi mật trước mắt nếu không đau, sốt, vàng da, không có viêm nhiễm và tắc mật thì có thể sống hòa bình nhưng cần khám định kỳ để theo dõi. Nếu nghi ngờ polyp ác tính hoặc polyp to trên 10mm thì cần cắt bỏ túi mật... Trong thư bạn nói hay đau bụng và đi phân lỏng rất có thể bạn còn bị nhiễm ký sinh trùng đường ruột. Vì vậy, bạn nên đi khám toàn diện ở chuyên khoa tiêu hóa có thể cần xét nghiệm phân và nội soi đại trực tràng từ đó bác sĩ sẽ có chẩn đoán chính xác và điều trị phù hợp.

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

Hiện tượng chướng bụng, đầy hơi kéo dài có thể là dấu hiệu của nhiều bệnh nghiêm trọng như ung thư buồng trứng, viêm loét dạ dày...




c
Bụng đầy hơi, khó tiêu có thể là triệu chứng của nhiều bệnh nghiêm trọng. Ảnh:Blogspot.
1. Hội chứng ruột kích thích
Khi bạn có cảm giác đầy bụng trong thời gian dài với các triệu chứng như đau, táo bón hoặc những cơn tiêu chảy, đây có thể là các triệu chứng của hội chứng ruột kích thích.
Đây là căn bệnh rối loạn chức năng đường ruột khá phổ biến. chướng bụng là vấn đề khó chịu nhất của căn bệnh này.
Các chuyên gia cho biết, việc cắt giảm ngũ cốc và các thực phẩm từ ngũ cốc trong chế độ ăn có thể giảm 30% - 40% triệu chứng ruột kích thích. Bạn nên tránh các loại thức ăn như bánh mỳ, yến mạch, các loại ngũ cốc ăn liền, bánh kẹo... để giảm sự khó chịu do chứng bệnh này. Ngoài ra, sữa chua lên men tự nhiên có thể giúp ích cho hệ tiêu hóa của bạn.
2. Đầy hơi
Hiện tượng đầy hơi khá phổ biến với mọi người. Trung bình, mỗi người có thể gặp triệu chứng này hàng ngày, tuy nhiên đôi khi chúng ta không cảm nhận được. Cảm giác đầy hơi quá mức có thể gây khó chịu, không thoải mái trong sinh hoạt. 
Thủ phạm của hiện tượng này là các loại thức phẩm giàu carbonhydrat như các loại đỗ, bông cải xanh, bắp cải, mận, táo hay các loại kẹo cao su chứa chất tạo ngọt thay thế đường sorbitol... Chúng khiến cho thức ăn trong ruột tiêu hóa chậm và giải phóng khí lưu huỳnh khiến bụng ấm ách, khó chịu.
Chuyên gia dinh dưỡng khuyên bạn ăn chậm, nhai kỹ để hạn chế sự chướng bụng, đầy hơi.
3. Bệnh Celiac
Celiac là một bệnh lý đường ruột. Nguyên nhân gây bệnh là tình trạng nhạy cảm với gluten - một loại protein có trong bột mỳ, lúa mạch và lúa mạch đen, dẫn đến viêm và bất sản niêm mạc ruột. Bệnh xảy ra ở đối tượng thuộc nhiều lứa tuổi với triệu chứng như tiêu chảy, tiêu phân mỡ, suy dinh dưỡng, thiếu vitamin. 
Nếu bạn gặp các triệu chứng trên, hãy gặp bác sĩ để xét nghiệm máu cho bệnh viêm loét dạ dày. Chuyên gia khuyên mọi người có triệu chứng đầy hơi và ruột kích thích nên làm xét nghiệm chẩn đoán các bệnh liên quan đến đến đường tiêu hóa.
4. Thay đổi nội tiết do mang thai
Phụ nữ tiền mãn kinh hoặc trong giai đoạn đầu của thai kỳ có thể gặp tình trạng chướng bụng kéo dài. Sự thay đổi hormone là nguyên nhận làm chậm nhu động ruột khiến thức ăn di chuyển chậm trong đường tiêu hóa, dẫn đến đầy hơi và táo bón.
Tập thể dục 30 phút mỗi ngày có thể cải thiện tình trạng này. Ngoài ra bạn nên uống nhiều nước, ăn trái cây và hoa quả để cải thiện đường tiêu hóa.
5. Ung thư buồng trứng
Triệu chứng của bệnh ung thư này khá mơ hồ, nên hầu hết các chướng hợp bệnh nhân chỉ phát hiện bệnh khi đã quá muộn. Nếu bạn gặp các triệu chứng đầy hơi dai dẳng, ăn uống khó khăn kết hợp với các vấn đề tiết niệu cảnh báo bạn tình trạng nguy hiểm cho sức khỏe. Bạn nên đến bệnh viện để thăm khám và được chẩn đoán bệnh kịp thời.
Phẫu thuật thay van tim được tiến hành khá sớm trên thế giới - từ những năm 1960 và ở nước ta vào những năm 1970. Mỗi năm có khoảng 280.000 bệnh nhân trên toàn thế giới được thay van tim nhân tạo. Tại nước ta, mỗi năm, trung bình cũng có gần 10.000 bệnh nhân được thay van tim.

Mặc dù đã có những tiến bộ rõ ràng về thiết kế của van tim cũng như kỹ thuật phẫu thuật thay van tim trong những thập kỷ qua, nhưng bệnh nhân mang van tim nhân tạo vẫn chưa có thể được đảm bảo hoàn toàn sau khi thay van. Có khá nhiều biến chứng sau khi thay van tim có thể làm ảnh hưởng đến tính mạng bệnh nhân.

Người mang van tim nhân tạo, đặc biệt là van cơ học có nguy cơ cao bị huyết khối gây tắc mạch, vì thế, việc điều trị chống đông lâu dài là bắt buộc. Tuy nhiên, lợi thế không thể bỏ qua của các van tim cơ học hiện nay là độ bền cao.

Ngược lại, van tim nhân tạo là van sinh học có nguy cơ thấp bị huyết khối và một số bệnh nhân không cần phải dùng thuốc chống đông nhưng độ bền của những van tim này lại hạn chế do thoái triển làm hỏng các van tim này.

5 biến chứng khi thay van tim nhân tạoCác loại van tim nhân tạo.
Biến chứng huyết khối

Biến chứng huyết khối là nguyên nhân chính gây tử vong ở bệnh nhân có van tim nhân tạo. Tỷ lệ biến chứng này gặp ở 0,6 - 2,3% bệnh nhân mỗi năm. Nguy cơ biến chứng huyết khối là giống nhau với bệnh nhân mang van tim cơ học có điều trị warfarin và bệnh nhân van sinh học không có điều trị warfarin.

Nguy cơ huyết khối không phụ thuộc vào loại van tim nhân tạo cũng như vị trí van tim nhân tạo, các yếu tố nguy cơ. Biến chứng huyết khối có thể gây ra huyết khối bắn lên hệ thống gây ra tắc các mạch như mạch chi hoặc mạch máu não; đặc biệt nguy hiểm khi huyết khối gây kẹt van tim nhân tạo.

Tỷ lệ huyết khối gây kẹt van nhân tạo gặp từ 0,3 - 1,3% mỗi năm. Triệu chứng của huyết khối gây kẹt van là bệnh nhân có khó thở hoặc mệt mỏi tăng lên trong thời gian ngắn từ vài ngày đến 1 tuần. Điều này đặc biệt hay gặp ở những bệnh nhân đột ngột dừng thuốc chống đông, có thay đổi liều chống đông. Những bệnh nhân có triệu chứng này cần phải được làm siêu âm sớm để chẩn đoán.

Khi có chẩn đoán huyết khối gây kẹt van nhân tạo mà kích thước huyết khối nhỏ, có thể điều trị thử bằng các thuốc tiêu huyết khối như urokinase hoặc streptokinase. Nếu huyết khối gây kẹt van nhân tạo lớn, di động hoặc bệnh nhân trong tình trạng huyết động không ổn định, phẫu thuật cấp cứu để lấy huyết khối hoặc thay lại van. Với những bệnh nhân mổ lại do kẹt van nhân tạo, tỷ lệ tử vong là 4-5%.

Xuất huyết liên quan đến thuốc chống đông

Ở bệnh nhân dùng thuốc chống đông lâu dài, nguy cơ chảy máu là 1%. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ huyết khối là giống nhau trên van cơ học và van sinh học nhưng chảy máu xuất hiện nhiều hơn ở van cơ học. Theo dõi INR chặt chẽ sẽ làm giảm nguy cơ chảy máu.

Thoái hóa van

Van cơ học thường có độ bền rất tốt và hiếm khi bị hỏng. Tỷ lệ thoái hóa của van sinh học tăng lên theo thời gian. Thời gian xuất hiện thoái hóa van thường vào năm thứ 7 hoặc thứ 8 sau khi mổ. Van sinh học sẽ thoái hoá từ 50 - 60% ở năm thứ 10 và 70 - 90% ở năm thứ 15.

Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn

Tỷ lệ viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn trên van nhân tạo khoảng 0,5% mỗi năm, thậm chí cả khi dự phòng kháng sinh đúng. Viêm nội tâm mạc trên van nhân tạo là tình trạng bệnh lý nặng nề với tỷ lệ tử vong cao (từ 30 - 50%).

Chẩn đoán thường dựa trên cấy máu dương tính và siêu âm tim có bằng chứng của nhiễm khuẩn van nhân tạo như có mảnh sùi, áp-xe cạnh van hoặc có dòng hở cạnh chân van mới xuất hiện. Bất chấp việc điều trị kháng sinh thích hợp, nhiều bệnh nhân cần phải phẫu thuật.

Điều trị nội khoa đơn độc có thể được nếu viêm nội tâm mạc xuất hiện muộn sau thay van (trên 6 tháng sau phẫu thuật). Phẫu thuật nên được làm trong các trường hợp: thất bại khi điều trị nội khoa, huyết động bị ảnh hưởng do dòng hở lớn, mảnh sùi lớn và có dòng chảy mới xuất hiện trong tim.

Hở cạnh chân van

Hở cạnh chân van điển hình là do nhiễm khuẩn, tuột chỉ, xơ hóa và canxi hóa vòng van tự nhiên dẫn đến van áp không chặt giữa vòng van nhân tạo với vòng van tự nhiên của bệnh nhân. Với hở chân van mức độ nhẹ thường là lành tính, chỉ có một số lượng rất ít bệnh nhân (<1%) là cần thiết phải phẫu thuật lại do hở cạnh chân van tăng lên sau 1-2 năm theo dõi.

Theo TS.BS Phạm Như Hùng - Viện Tim mạch Việt Nam

Khí hậu nước ta nóng, độ ẩm rất cao 85 - 90% nên những người thường xuyên phải làm việc dưới trời nắng nóng có nhiều nguy cơ bị say nắng.

Say nắng còn gọi là “trúng thử”, hay đột quỵ do nóng. Đột quỵ do nóng xảy ra sau khi tiếp xúc với nhiệt độ quá cao như ánh nắng mặt trời hay từ các nguồn khác nhau. Khi cảm nắng, nhiệt độ cơ thể có thể quá nóng và dễ bị kiệt sức vì nóng.

Chuột rút do nóng xảy ra sau khi mất quá nhiều nước và muối do đổ mồ hôi quá nhiều. Kiệt sức vì nóng có thể dẫn đến đột quỵ do nhiệt, một tình trạng bệnh đe dọa tính mạng. Trong trường hợp nặng, say nắng thậm chí có thể gây rối loạn chức năng nội tạng, tổn thương não và tử vong.

Các triệu chứng của say nắng có thể xảy ra đột ngột. Một khi cơ thể mất khả năng điều tiết nhiệt, nhiệt độ cơ thể có thể tăng lên nhanh chóng. Các triệu chứng của say nắng bao gồm đau đầu đột ngột, chóng mặt, lả người hay ngất xỉu, da nóng và khô.

Nhiệt độ cơ thể có thể tăng lên đến 38,9OC hoặc cao hơn, nhịp tim nhanh dễ dẫn đến nhồi máu cơ tim ở những bệnh nhân bị bệnh mạch vành tiềm ẩn do tăng nhu cầu oxy cơ tim. Trong trường hợp nặng, nôn mửa lặp đi lặp lại và hôn mê có thể xảy ra.

Say nắng dễ xảy ra ở trẻ nhỏ và người già. Trẻ nhỏ thường không tự nhận thức về cái nóng và nhạy cảm với nhiệt độ tăng cao. Người cao tuổi ít nhạy cảm với những thay đổi về nhiệt độ, do đó khả năng tự điều chỉnh nhiệt của cơ thể hoạt động kém hiệu quả.

Cần phải phòng ngừa say nắng như uống nhiều nước không chứa cafein, chất lỏng không cồn hay có thể uống nước gạo rang có cho thêm tí muối, đường và gừng ngay cả khi bạn không khát. Bổ sung lượng nước bị mất qua mồ hôi bằng cách uống ít nhất mỗi 20 phút trong khi tập luyện. Không nên quá gắng sức.

Khi cảm thấy mệt mỏi thì vào chỗ râm mát để nghỉ ngơi. Tránh ra bên ngoài suốt thời gian nóng nhất trong ngày từ 10g sáng đến 6g tối. Mặc mát mẻ, thoáng, không gò bó, quần áo sáng màu, đội nón rộng vành che mặt, tai, cổ.

Nếu ai có dấu hiệu say nắng cần đưa đến cơ quan y tế ngay lập tức. Trong khi chờ đợi, đưa người bệnh đến nơi mát mẻ. Cung cấp các loại đồ uống mát, tốt nhất là một thức uống có đường và muối. Để ở nơi thoáng gió, nới lỏng cổ áo, quần. Kế hoạch điều trị phụ thuộc vào mức độ của các triệu chứng. Điều trị say nắng bắt đầu ngay sau khi được chẩn đoán.

Trong trường hợp nhẹ, cơ thể có thể được làm mát hiệu quả bằng cách đưa bệnh nhân đến một khu vực có bóng râm hoặc không khí lạnh, cởi bỏ quần áo và lau mát cơ thể, đặc biệt ở những vùng mạch máu lớn như bẹn, nách, cổ...

Uống nước đá cũng giúp trả lại nhiệt độ cơ thể đến một mức an toàn. Trong trường hợp nặng, điều trị liên quan đến việc làm nguội nhanh, hoặc bằng cách ngâm cơ thể trong một bồn tắm nước đá hoặc dùng quạt thông gió lớn thổi không khí mát mẻ trên da ẩm ướt.

Phục hồi do say nắng phụ thuộc vào tốc độ và hiệu quả của việc chẩn đoán và điều trị. Khi điều trị say nắng nhanh chóng kịp thời, bệnh nhân có thể hồi phục hoàn toàn trong một hoặc hai ngày.

Bệnh nhân hồi phục có thể cần được nghỉ ngơi và ở lại trong khu vực mát mẻ vài ngày. Bệnh nhân cũng nên áp dụng các cách phòng chống tích cực để tránh say nắng tái diễn.

Một người lao động ở TP.HCM phải lấy túi đá chườm lên đầu cho mát vì nắng nóng - Ảnh: Thanh TùngMột người lao động ở TP.HCM phải lấy túi đá chườm lên đầu cho mát vì nắng nóng - Ảnh: Thanh Tùng
Theo BS Nguyễn Đông Hải - phó trưởng khoa nhi BV Bạch Mai, ba nhóm bệnh thường gặp tại khoa này trong tuần nắng nóng kỷ lục vừa qua ở miền Bắc là sốt, viêm màng não do virút và say nóng, say nắng.

Theo BS Hải, do khả năng điều nhiệt của trẻ em kém nên trong điều kiện nắng nóng, phòng ở chật chội, bí bức, không có điều hòa nhiệt độ thì trẻ không ra nắng cũng có hiện tượng say nóng. Biểu hiện bằng tình trạng sốt cao, một số trường hợp có co giật, mệt mỏi, ăn kém, giảm sức đề kháng...

Theo BS Hải, những trường hợp này trẻ không phải sốt do nhiễm khuẩn, mà mắc bệnh do thời tiết.

“Trong thời tiết nắng nóng mà gia đình không có điều hòa nhiệt độ và các thiết bị chống nóng, cần tạo điều kiện tối đa cho trẻ em, người già, người mắc bệnh mãn tính uống đủ nước. Tôi cho là chống rét dễ hơn chống nóng và việc chống nóng trong điều kiện khó khăn khó thực hiện hơn chống rét. Tỉ lệ tử vong do nóng bức cao hơn hẳn so với tử vong vì rét” - BS Hải cho biết.

Trong tuần nắng nóng kỷ lục vừa qua tại miền Bắc, ngoài hai ca say nắng đã vào Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô (Hà Nội) điều trị trong tình trạng rất nặng (đều hôn mê khi vào viện), các tỉnh thành cũng rải rác ghi nhận bệnh nhân vào viện do say nắng, say nóng.